Định vị đất và thổ trạch xây dựng

Giải thích qua các thuật ngữ phong thuỷ.

Định vị đất và thổ trạch xây dựng

1. Thuật ngữ Vọng Khí Ngũ Hành
:

Mọi thế đất thiên nhiên
cao,thấp,vuông,tròn,cong,thẳng,lưỡi nhô,cung ngược,Bạch Hổ quay đầu…đều theo
Ngũ Hành mà biến chuyển.Vọng Khí Ngũ Hành là tìm kiếm thế đất có trường khí tuân
thủ nguyên tắc tương sinh,tương khắc,tương thừa,tương vũ trong ngũ hành vạn
vật,giúp con người xem xét,điều chỉnh môi trường sống sao cho hài hoà và thuận
lợi nhất.

Ví dụ 1: Hoả địa,thuật ngữ chỉ chỗ
thổ trạch mang tính hoả,dễ bị cháy và khó khăn khi chữa cháy,nên tránh trong lựa
chọn nhà đất.Các miếng đất hình tam giác,có các góc nhọn,đường đi vào lắt léo
khó lường,thắt hẹp và xộc xệch…đều là hoả địa.Các khu nhà nhiều mái nhọn sát
nhau,vật liệu dễ cháy như tranh tre gỗ giấy…(thuộc mộc dễ sinh hoả) cũng có
nguy cơ cao.Phàm khi chọn thổ trạch,cần tìm nơi có hành thổ làm chủ đạo (bằng
phẳng,nằm ngang,vuông vức,không cao quá,không thấp quá) để xây dựng được thuận
tiện và ổn định.Nếu gặp hoả địa,cần phá thế bằng cách làm quang đãng ngoại
cảch,giảm mật độ xây dựng,tránh dùng vật liệu hành mộc và tạo các lối thoát hiểm
phòng khi sự cố.

Ví dụ 2 : Mộc địa,thuật ngữ chỉ môi
trường,mảnh đất có nhiều cây cối,hoặc nhiếu kiến trúc cao dạng hình trụ,nhà mọc
vươn cao và có nhiều cột tròn…đều thuộc mộc địa.Khi tổ chức cảnh quan hay xây
dựng nhà cửa nếu dùng các kiến trúc cũng dạng mộc (nhà gỗ,cột tròn,nhà vươn cao)
thì sẽ được ổn định.Khi dùng kiến trúc theo dạng hành hoả (mái dốc,nhọn,ngói đỏ)
thì được tương sinh mộc hoả,tuy nhiên,nếu xung quanh nhiều cây cối quá thì phải
phát quang,vì mộc vượng,sinh hoả vượng,gặp hoả hoạn.

Nếu trên mộc địa mà dùng các kiến
trúc hành thổ (nhà mái bằng,thấp) thì không phù hợp (mộc khắc thổ) vì dễ tạo ra
các vùng lõm giữa môi trường mộc,tích tụ ẩm và gió hút.Về qui hoạch chung,thì
qui hoạch đã định vị mảnh đất,chỉ có thể mua miếng đất hợp với mệnh trạch,tuyệt
nhiên không thể mua miếng đất nghịch trạch rồi định vị hướng phong thuỷ theo chủ
quan.

Khuynh hướng chung của các khu dân
cư đã ổn định và các khu dân cư mới hoặc đang qui hoạch,căn nhà đều định vị theo
dòng chảy của các con đường,có nghĩa làa trước mặt ngôi nhà luôn là con đường,dù
lộ lớn hay đường làng,đường mòn hay đường nội bộ.

2. Thuật
ngữ Tam Cương, Ngũ Thường :

Tam Cương là phép tắc vua – tôi,cha
– con,chồng – vợ.Ngũ Thường là: Nhân,Nghĩa, Lễ, Trí,Tín,là qui phạm đạo đức
xưa.Còn trong phong thuỷ,khi chọn đất làm Dương Cơ (nhà ở) hay Âm Phần (mồ
mả),Tam Cương là 3 yếu tố: Khí Mạch – Minh Đường – Thuỷ Khẩu.Ngũ Thường là 5
thành phần cơ bản của miếng đất: Long – Huyệt – Sa – Thuỷ – Hướng.Xem xét cát –
hung của một thổ trạch đều phải dựa trên Tam Cương – Ngũ Thường,không được bỏ
qua yếu tố nào.Khí mạch vượng phải có thêm minh đường thoáng đãng (khoảng đất
hay mặt nước phía trước) và thuỷ khẩu khúc tắc (quanh co uốn lượn,tránh chảy
thẳng tuột hoặc phản cung) thì mới gọi là đắc địa.

Tam Cương trạch là chia ba phần đều
nhau (mặt cắt ngang và cắt dọc)của miếng đất xây dựng,tính từ mặt tiền nhà,phần
tiền được coi là phần quan trọng nhất,gọi là vua tôi,phần giữa được coi là phần
quan trọng thứ nhì,gọi là cha con,phần sau được coi là phần quan trọng thứ
ba,gọi là vợ chồng.Người chủ đầu tư nên xem xét ý nghĩa quan trọng này mà bố trí
các phòng ốc thích hợp.Dù là tam hay tứ đại đồng đường,người chủ đầu tư dù thứ
bậc ông,cha,con hay cháu vẫn đứng ở vị trí quan trọng nhất (vua tôi).

Nói thêm: Theo quan niệm phong thuỷ
truyền thống,chủ dương trạch luôn là người nam được thừa hưởng hoặc tự xây cất
căn nhà cư ngụ.Cha mẹ đến ở với con cái là ở nhờ,không coi là chủ dương trạch,vợ
và các con,cháu sắp xếp theo trạch chủ.Trường hợp chủ trạch mất,con trai trưởng
đã trưởng thành (18 tuổi) sẽ là chủ trạch,chưa trưởng thành (dưới 18 tuổi) người
mẹ là chủ trạch.Trường hợp người nữ là độc thân,chồng chết hoặc không có con
trai,người nữ là chủ trạch.Chỉ xác định đông hoặc tây tứ theo chủ
trạch.

3. Thuật
ngữ Tứ Tượng :

Quan sát thiên văn trong vũ trụ,các
triết gia Đông Phương đã chọn 28 ngôi sao ở gần Hoàng Đạo và Xích Đạo làm
chuẩn,từ đó phân ra Đông – Tây – Nam – Bắc,mỗi phương có 7 sao xếp nên các hình
tượng Thanh Long,Bạch Hổ,Chu Tước,Huyền Vũ,từ đó xác định yếu tố cơ bản của
Phong Thuỷ là phương vị.

Thế đất khi lựa chọn cần tuân thủ
theo Tứ Tượng nói trên là Long (trái),Hổ (phải),Tước (trước),Vũ (sau).Ấy là quan
niệm chọn đất làm nhà hợp với môi trường thiên nhiên: Dựa vào thế cao phía sau
nhìn ra khoảng trống sáng sủa phía trước,hai bên trái phải có sông ngòi uốn
khúc,đồi núi nhấp nhô.

Quan sát Tứ Tượng là quan trọng bậc
nhất cho việc định vị thổ trạch và diện tích căn nhà xây dựng.

Định vị thổ trạch và diện tích xây
dựng là xác định mối tương quan giữa nhà và đất thuận lý với trạch mệnh của
người chủ cư ngụ.Nếu căn nhà xây dựng trên 1/2 miếng đất
phía trước (phía mặt tiền Chu Tước),phong thuỷ cho rằng căn nhà ấy sẽ lợi ích
cho người chủ đầu tư dưới 30 tuổi,cát vượng nhanh chóng,nhưng không bền vững lâu
dài.Nếu căn nhà xây dựng trên 1/2
miếng đất phía sau (phía mặt hậu
Huyền Vũ),phong thuỷ cho rằng căn nhà sẽ lợi ích cho người trên 40 tuổi,cát
vượng chậm nhưng chắc chắn,bền vững lâu dài và được sức khoẻ,tuổi trời.Tuy
nhiên,xây dựng ngôi nhà giữa trung tâm miếng đất được coi là lý tưởng nhất,vì
ngôi nhà được thụ hưởng tứ tượng.Trường hợp này sân vườn tiền tước nên rộng gấp
đôi sân vườn hậu vũ,chí ít cũng rộng lớn hơn 54cm,giới thuỷ bên tả Thanh Long
nên rộng hơn giới thuỷ bên hữu Bạch Hổ,chí ít cũng 5,4cm.

4. Thuật
ngữ Cát – Hung thuỷ :

Tướng Sơn (nhìn địa hình),Tướng thuỷ
(xem nước) để đánh giá cát – hung của môi trường.Cát thuỷ là nguồn nước dẫn đến
thì phải có nơi đón nhận ở phía trước (thuỷ nhập đường).Nếu là sông thì phải
quanh co uốn kúc mới cát,còn chảy xiết xối,thẳng là hung.Nếu là suối thì phải êm
đềm,lắm thác ghềnh thì dựng nhà sao được.Nếu là hồ,đầm thì mặt nước phải phẳng
và trong ấy là cát,còn nếu đục ngầu,xói lở thật là bất lợi.Nói chung,nước trong
thiên nhiên cần giữ nguyên trạng để bảo tồn nguyên khí,việc san lấp tuỳ tiện,đào
rãnh khơi mương bừa bãi không cân nhắc sẽ ảnh hưởng đến dòng chảy,xâm hại môi
trường khiến trường khí dương trạch bị suy tổn.

5. Thuật
ngữ Hung Sơn :

Năm dạng địa mạo xấu cần tránh hoặc
khắc phục: Đồng (trụi trọc),Đoạn (đứt khúc),Thạch (trơ đá),Quá (vượt ngoài hình
thể,mất cân đối),Độc (lẻ loi,đơn côi).Đồng Sơn và Thạch Sơn cây ối làm sao
sống,nước làm sao ngưng tụ.Đoạn Sơn,Độc Sơn,nhà nơi đồng không mông quạnh,không
xóm giềng liệu sống được chăng? Còn Quá Sơn thì nhịp sinh học của người cư trú
bị tán loãng,khiến suy bại nhiều lắm.

Các qui hoạch dân cư mới,chưa xử lý
hạ tầng theo hướng tích cực: Đường sá,cấp nước,lưới điện,đã xây dựng khu dân
cư,là rất hung xấu.

6. Thuật
ngữ Tương Hình Thủ Thắng :

Khái niệm chỉ các biện pháp phong
thuỷ tạo sự ổn định và thuận lợi cho dương trạch.Tập trung vào sáu chữ: Bối Sơn
– Diện Thuỷ – Hướng Dương có nghĩa là dựa lưng vào núi,quay mặt về chỗ có
nước,hướng nhà về phía có ánh sáng.Nếu mặt trước hướng Nam đón gió lành,có sông
ngòi ao hồ ở chính diện tận dụngđược hơi nước và cảnh quan,có núi non và gò đồi
ở hậu diện làm chỗ chắn gió lạnh phương Bắc,ấy là đắc cách.Nhưng thực tế khó
lòng tìm kiếm được miếng đất như vậy,nên tương hình thủ thắng chính là nương
theo điều kiệnsẵn có,dựa vào thiên nhiên mà điều chỉnh dương trạch của mình cho
phù hợp.

7. Thuật
ngữ Hình Pháp :

Hình và khí luôn tương ứng nhau,đồng
thời cũng tương ứng với chất (vật liệu tạo thành) và sắc (màu sắc,khí sắc).Hình
nào thì khí ấy,chất ấy,sắc ấy.Xem hình để luận khí,vọng khí để diễn giải hình
thể,luôn tương đối không thể tách rời.Cũng có lúc chỉ thấy hình mà khó đoán
khí,đó là ngoại hình lấn át nội khí,cần phải đảm bảo tính xác thực,nếu không
hình khí sẽ không song hành.Hình – Chất – Sắc tương ứng nhau theo mối quan hệ
ngũ hành tương sinh,tương khắc.Từ mối quan hệ này mà chọn chất và sắc tương quan
với hình và khí của con người cũng như dương trạch sao cho hài hoà và thuận
lý.

8. Thuật
ngữ Bát Phong :

Gío của 8 phương hướng
mạnh,nhẹ,chính phụ xoay chuyển xung quanh cuộc đất có vai trò quan trọng đối với
trường khí dương trạch.Nhà quay về hướng nào hoặc mở cửa mặt nào cũng là đón gió
từ hướng đó nhiều nhất.Do đó phải tìm hiểu Hoa Gió để xếp đặt kiến trúc cho phù
hợp.Không phải hướng gió thổi mạnh là tốt.Tránh gió xấu (nóng,lạnh,khô) mà đón
được gió lành (mát,dịu,mang theo hơi nước) thì môi trường cư ngụ được hưng
vượng.

Cần lưu ý gió cục bộ (các mặt nước
rộng,hẻm hút gió)để bổ sung dương trạch.Các hướng có gió xấu (Đông Bắc,Tây Bắc)
có thể trồng cây ngăn bớt.

Khi xem xét cuộc đất,việc nhận định
gió và nước phù hợp là rất quan trọng.Không phải cứ có gió,có nước là đạt phong
thuỷ.Nếu được phong tàng thuỷ tụ (gió ẩn,nước tập trung) tức là tạo khí tụ thì
đảm bảo cân bằng sinh thái,giữ được nguồn gốc sự sống,nhược bằng gặp gió thổi
mạnh và phân tán (phong phiêu) cùng với nước chảy mạnh thoát đi tuỳ tiện (thuỷ
đãng) thì lại rất kỵ,không thể là cuộc đất dựng nhà cư ngụ tốt được.Thường các
vùng Sơn cốc,phong cảnh hùng vĩ,có thác lớn suối sâu,gió lộng bốn bề,thì chỉ là
các điểm dừng chân tham quan,nghỉ ngơi trong thời gian ngắn,nếu định cư lâu dài
thì chính là chỗ phong phiêu thuỷ đãng,không hợp với nhịp sinh học của con
người,không phải là thổ trạch tốt.

9. Thuật
ngữ Tân Chủ :

Phong thuỷ xưa chỉ hình thế hai núi
đối diện nhau như khách (tân),chủ phải nghiêm trang cân đối,nếu chủ khách không
nhìn nhau sơn mạch lung tung thế đất khó cát tường.Ngược lại,nếu chủ,khách quá
gần,không phân biệt trước sau,trên dưới thì cũng làm cho địa mạch bị kìm hẹp,là
hung cách.Trong điều kiện đô thị,tân chủ tương đồng là nên làm nhà trong khu qui
hoạch ổn định,tương xứng về chiều cao,hình khối,nhà đối diện nhau thì giữ khoảng
cách minh đường thông thoáng,không mở toang của dễ bị xoi mói vào nhau,mà cũng
không nên xoay xiên vặn lệch nhiều dễ gây tán khí,hư hại trường khí toàn
khu.

10. Thuật
ngữ Phò Môn :

Thuật ngữ chỉ sự bảo vệ,giữ gìn cửa
nhà,hay cụ thể là giữ gìn phần minh đường phía trước mỗi thổ trạch.Minh đường có
thoáng đãng,chu toàn thì mới nghênh đón được cát khí,đồng thời giảm thiều xung
sát.Trước mỗi cửa chính,sân hay tiền sảnh cần tránh để các vật lạ như đá
tảng,trụ điện hay độc thọ (cây lẻ loi) án ngữ,che khuất tầm nhìn và cản trở đi
lại,nhất là khi chúng bị đối tâm môn (nằm giữa tâm cửa).Phò Môn còn là việc cấu
tạo mặt ngoài nhà sao cho cửa không bị tác động xấu của thời tiết làm hư hao
hoặc mở ra bị vướng.Tốt nhất là đại môn nên có khoảng giới thuỷ,lùi lại để tránh
trực xung,đồng thời tạo cho minh đường khoảng lùi cần thiết,không nên nhô ra quá
gần đường giao thông.

Nói thêm về cô phong độc thọ.Nghĩa
gốc là một núi (độc sơn) lẻ loi chầu trước huyệt,một thế đất xấu.Về mặt cảnh
quan,nếu trước khu đất hay ngôi nhà bị án ngữ bởi vật thể hay chướng ngại: Trụ
điện,miệng cống,cây to…đều gây cản trở tầm nhìn,mất mỹ quan và giảm sinh
khí.Nếu có độc thọ thì gây cản trở đi lại,độc đạo thì gây hút gió trực xung.Khắc
phục các nhược điểm trên bằng cách trồng rào cây cản gió hoặc xây tường lửng làm
bình phong,nếu có trồng cây trước cửa thì nên bố cục hài hoà,trồng cây theo nhóm
cao thấp tương quan hoặc đăng đối hai bên,tránh trồng một cây đơn độc chính
giữa.

11. Thuật ngữ Thập Nhị Trượng
Pháp :

Là các giải pháp căn cứ theo quan
điểm tổ chức cảnh quan để chọn lựa các cuộc đất hài hòa phong thủy .12 trượng
pháp gồm: Thuận,nghịch,xúc (co lại),xuyết (tô điểm),khai, xuyên,ly (rời),một
(mất đi),đối,tiết (cắt đứt),phạm và đôn.Trong đó quan trọng hơn cả là thuận
trương (nương theo địa hình,tận dụng cảnh quan để chọn cuộc đất).Thuận trượng
cũng có thể kèm theo nghịch trượng (tìm kiếm các hạn chế,dùng tương phản để tạo
nổi bật).Thuận trượng đúng là đón nhận lai mạch của bản sơn (cuộc đất chủ thể)
để sắp xếp không gian cảnh quan,định trung cung và long cục thủy
khẩu.

Vài ví dụ:

+ Đôn trượng,thủ pháp chính là đắp
thêm nền để tạo sự thay đổi độ cao,bình sàn xây dựng và bài thủy tốt hơn.Đôn
trượng phải bắt đầu từ việc xác định cao độ vốn có của thổ trạch và hướng bài
thủy thuận (thoát nước). Nguyên tắc truyền thống của phong thủy cao độ phía sau
phải cao hơn cao độ phía trước,Minh đường tiền trạch cần thoai thoải thoáng
đãng,còn hậu chẩm (phía sau) có thể bả sơn tựa núi là thế chủ toạ vững chắc,phát
triển lâu bền về sau.Tại các vùng đất thấp trũng,đôn trượng là thủ pháp rất hữu
hiệu để được một thổ trạch ổn định và cao ráo,tránh được ngập trũng,úng thủy
cũng như những tác động xấu từ môi trường đem lại.

Khai trượng,là giải pháp phức tạp
nhất,lấy trọng tâm ở việc tránh trực xung.Quyết yếu là đường khí không được đi
thẳng vào trung tâm,phải để cho đường khí chạy theo hai bên mà vào.Trong chọn
huyệt vịcho thổ trạch,có long mạch chầu về mà quá gấp,quá thẳng,chĩa vào trung
tâm cuộc đất tức là trực xung,bất lợi.Nên chia tách trường khí,chuyển sang hai
bên rồi mới vòng lại theo cách khí vận khúc tắc (uốn lượn) thì tất giảm được
trực xung mà tàng phong tụ khí được nhiều.

12. Thuật ngừ Trung Cung
:

Mỗi nhà hay căn phòng đều có một khu
vực hoặc một điểm trung tâm gọi là trung cung.Từ trung cung (các hệ trục
ngang,dọc,chéo) và phương hướng của ngôi nhà cũng như các bố trí xung quanh nó
được thiết lập.Tuỳ điều kiện thực tế,có thể định vị Trung Cung của toàn nhà hay
từng phòng riêng.Định truing cung toàn nhà để có cái nhìn tổng quát,từ đó phân
các khu chức năng: Bếp,phòng khách,ngủ,vệ sinh.Định vị trung cung từng phòng là
để tiếp cận chi tiết và đề ra giải pháp cụ thể.Tại trung cung của nhà không nên
đặt các khu vệ sinh,kho chứa đồ vì sẽ ảnh hưởng không tốt đến trường khí toàn
nhà.

Trên Bát Quái hậu
thiên,trung cung giữ vị trí số 5.

Mồng năm (5) mười bốn (14) hai ba
(23),đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn.Câu ca dao này đánh giá vai trò số 5 (1+4=5
và 2+3=5) quan trọng biết là ngần nào.Số 5 nơi trung cung là con số giữ vai trò
cân bằng các hệ trục ngang,dọc,chéo của ma trận tam phương (xem chương Bát quái
đồ),giữ vai trò chủ đạo trong việc kích hoạt nhập thế và xuất thế cho dương
trạch.

13. Thuật ngữ Trần Thiết Dương
Trạch :

Tướng địa (chọn đất) và trần thiết
(trang trí nội thất) là một thể thống nhất của phong thủy.Các nguyên tắc cơ bản
của trần thiết dù biến thiên qua thời gian,song vẫn luôn thống nhất.Từ việc đặt
bài vị (bàn thờ) không được nhìn vào khu vệ sinh (uế khí xâm phạm) đến cách bố
trí cầu thang tránh đi trên chỗ giường ngủ hoặc chỗ làm việc vì gây bụi và va
chạm.Phong thủy hướng các chọn lựa an toàn,ổn định và vệ sinh.Những chi tiết nhỏ
như: Giường ngủ không được đặt gương soi đối diện vì tránh luồng hung khí phản
chiếu,gây ảo giác cho người nằm ngủ hoặc dầm,xà băng ngang đầu người sinh hoạt
bên dưới dễ là nơi bám bụi và khó chiếu sáng…Chính là các nguyện tắc cơ bản
khá thiết thực khi bố trí nội thất và xếp đặt không gian.

14. Thuật ngữ Thủy Dụng
:

Khái niệm chỉ việc sử dụng nước
trong dương trạch sao cho hợp lý ,hài hoà.Những khu vực sử dụng nước nhiều như
phòng tắm,sàn nước…phải lưu ý bài thủy thông suốt,lưu ý tới vấn đề thủy
luân,tránh tù hãm hoặc nước tĩnh,nước không chảy tức là không tạo được dòng sinh
khí,nhưng nước chảy mạnh quá,không tương đồng với nhịp sinh học của người cư ngụ
thì cũng gây ra tán khí.Chú ý trong dương trạch phải vừa có tụ diện thủy (nước
trên mặt thao kiểu hồ cảnh) vừa đảm bảo duyên chữ thủy (nước sạch dự trữ trong
nhà) thì mới đảm bảo vừa có trường khí sinh động bên cạnh nguồn nước dùng cho
sinh hoạt lâu dài và ổn định.Ngoài ra,thủy dụng còn bao hàm ý nghĩa xuất thế
trong việc Vọng nước cầu Long.

15.
Thuật ngữ Khiêm Trạch :

Ngôi nha 2tuân thủ theo quẻ Khiêm
(Địa/Sơn Khiêm) bao hàm ý nghĩa sâu xa về sự cân đối,hài hòa,vừa phải.Công trình
càng lớ,càng đổ nhiều tiền của thì càng phải tính sao cho khiêm tốn,dùng tiền
đúng chỗ đem lại hiệu quả.Cùng là điều kiện tự nhiên như mưa,nắng,ẩm,gió,song
hành với những hoạt động hành ngày của con người như thân nhiệt,hơi thở cho đến
phân rác hay các quan hệ xã hội,láng giềng đều có thể trở thành phúc hay họa.Xây
nhà cửa mà tận dụng được những yếu tố bên ngoài thì là hợp với đạo khiêm.Khiêm
trạch đối lập với phô trương chứ không đồng nghĩa với thấp bé hay thiếu
thốn.Không phải cứ mờ nhạt hay khép nép là khiêm,mà khiêm trước hết cái gì lớn
thì lớn,cái gì nhỏ thì cần nhỏ,hình thức tương xứng với nội dung,không làm cho
cái vẻ bên ngoài nhiều hơn cái thực có bên trong.Cân bằng âm dương,tĩnh động
tương sinh ngũ hành chính là hướng tới khiêm trạch vững bền.

Trên đây chỉ là 15 trong vô số các
thuật ngữ kinh điển của phong thủy truyền thống.Nên coi 15 thuật ngữ này là luận
thuyết căn bản để học biết,để kế thừa,vận dụng trường hợp có thể,để thụ hưởng
lợi ích cho căn nhà cư ngụ.Dương trạch xây dựng mới hay đã cư ngụ đều có thể ứng
dụng.Với xây dựng mới,chỉ sau khi làm quen và xác định được những khái niệm trên
mới nên nhờ kiến trúc sư hoặc kỹ sư xây dựng tiến hành thiết kế và xây dựng.Với
dương trạch đã ngụ,có thể tu sửa các khiếm khuyết,khắc phục những có thể trong
khả năng có thể,điều đó chỉ khiến căn nhà cư ngụ cát vượng hơn.

Giải
pháp nền đất lập trạch nên thế nào?

Quan niệm coi trọng phần xây dựng
hơn phần nền đất là sai lầm.Chẳng phải tiền mua đất cao hơn rất nhiều lần tiền
làm nhà đó sao? Đất là căn bản của dương trạch không bao giờ được coi rẻ.Thiếu
gì những căn nhà lộng lẫy,nguy nga,xanh xanh đỏ đỏ,được xây cất trên bùn ao,đất
bạc màu,thậm chí bãi rác xà bần.Căn nhà cư ngụ xây dựng trên nền đất kiệt khí
hoặc khí uế tạp khó lòng cát tường.

Cần vượt qua quan niệm sai lầm: Mặt
sàn tráng xi măng,lát đá hoa hay gỗ có thể che lấp được tất cả những gì vùi lấp
dưới nó.Và sai lầm hơn khi cho rằng: Vùi lấp thứ gì xuống nền chẳng được,miễn là
không tốn tiền,tiền bạc hào phóng cho việc xây dựng và mua sắm trang thiết bị,đồ
đạc hiện đại.

Bởi chưa biết: Khí mạch làm sao tốt
lành được khi đi qua nền đất xú uế,kiệt,bạc để lên nuôi dưỡng căn
nhà.

Vì vậy,phong thủy lưu tâm vấn đề nền
đất lập trạch cho căn nhà mới xây dựng hoặc căn nhà đã ngụ nay có điều kiện tu
bổ sửa chữa.Giải pháp nhập thế và xuất thế đề xuất.

Nhập thế: Thay toàn bộ (nhấn mạnh,bỏ
tất cả,đừng tiếc,dù là loại thổ gì) phần đất đào sâu xuống để đóng cừ,đào móng
hoặc hệ thống móng,bằng loại cát thật sạch.Chiều sâu đào xuống ít nhất là
54cm.Giải pháp này gọi là thay chiếu hay nệm mới cho giường.Dòng khí từ dưới đất
được lọc sạch trước khi chảy lên nhà.Giải pháp này vô cùng lợi ích cho căn nhà
và sức khỏe chính là tài lộc.

Xuất thế: Căn cứ theo Bát Quái đồ và
sở nguyện của chủ dương trạch,có thể đặt dưới lớp nền cát này 7 hoặc 9 viên đá
(nên đẽo tạc hình con cóc),đặt trên hai lớp 50+45=90 đồng tiền chinh cổ.Viên đá
chủ (cóc cái) ngậm 4 đồng chinh nơi miệng và bụng.Cộng là 99 đồng chinh.Đây là
giải pháp đặt thổ sinh kim cầu mong điều muốn.Nhập thế thì nên làm,Xuất thế tuỳ
tâm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Sửa cửa sắt, dich vu ke toan, dich vu thanh lap doanh nghiep tphcm, bang gia dich vu thanh lap cong ty tphcm, thiet ke website